https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/issue/feedTạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng2026-08-13T08:19:12+07:00Open Journal Systems<p>Lịch sử phát triển<br />Ngày 03 tháng 01 năm 1992, Tờ Thông tin Bỏng ra số đầu tiên<br />Ngày 20 tháng 3 năm 2001, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) ra Quyết định số 78/GP-BVHTT cấp giấy phép hoạt động báo chí cho Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng thuộc Viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác. Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu tiên cho tới nay, Tạp chí Y học thảm hoạ và Bỏng đã được cấp phép sửa đổi nâng kỳ xuất bản lên 6 số/năm (Giấy phép hoạt động báo chí số 1311/GP-BTTTT, ngày 23/7/2012;) và các số Tạp chí chuyên đề phục các Hội nghị Khoa học.</p> <p>Ngày 18 tháng 12 năm 2009, Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng được Bộ khoa học và công nghệ quốc gia cấp mã số chuẩn quốc tế p-ISSN 1859 - 3461 cho tạp chí loại hình in.</p> <p>Ngày 09 tháng 12 năm 2021: Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng được cấp chỉ số DOI mã số 10.54804</p> <p>Ngày 06 tháng 7 năm 2023: Bộ Thông tin & Truyền thông cấp lại giấy phép hoạt động Tạp chí Y học thảm hoạ và Bỏng (loại hình in) và thực hiện thêm loại hình tạp chí điện tử.</p> <p>Ngày 28 tháng 11 năm 2023, Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng loại hình điện tử được Cục Khoa học và Công nghệ Quốc gia cấp mã số chuẩn quốc tế e-ISSN 3030 - 4008.</p> <p>Tôn chỉ, mục đích hoạt động báo chí: <br />+ Giới thiệu các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong lĩnh vực y học thảm họa và bỏng, liền vết thương, phẫu thuật tạo hình, và các chuyên ngành y học khác.<br />+ Thông tin các vấn đề có liên quan về chuyên môn ở trong nước và quốc tế.<br />+ Cung cấp tư liệu cho cán bộ y tế trên toàn quốc và bạn đọc quan tâm<br />+ Đối tượng phục vụ: Các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý, giảng viên, viên chức, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và bạn đọc quan tâm. <br />+ Phát hành trên phạm vi toàn quốc</p> <p>Trong thời gian hoạt động, Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng đã thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chất lượng ngày càng nâng cao cả về nội dung và hình thức góp phần đẩy mạnh công tác phòng, điều trị và nghiên cứu khoa học về bỏng cho cộng đồng và cán bộ y tế trong toàn quốc, đặc biệt góp phần không nhỏ trong công tác phòng và chống thảm họa thiên nhiên tại Việt Nam. </p> <p>Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng phát triển của khoa học, Tạp chí đã xây dựng ra website Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng phiên bản online phục vụ các nhà nghiên cứu và độc giả thuận tiện hơn.</p> <p>Độc giả có nhu cầu tham khảo chi tiết thông tin bài nghiên cứu khoa học hoặc gửi bài đăng xin vui lòng liên hệ với tòa soạn Tạp chí<br />Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng.<br />Tầng 3 toà nhà Đ2 - Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác<br />Số 263 Phùng Hưng - Phúc La - Hà Đông - Hà Nội<br />ĐT: 069 566626 * fax: 84.0243 6883180<br />Email: tcbongvn@yahoo.com; thư ký toà soạn: Trần Xuân Việt - 0989536261</p>https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/566Kết quả điều trị nhiễm khuẩn vi khuẩn gram âm đa kháng ở bệnh nhân bỏng nặng có biến chứng sepsis sử dụng Ceftazidime-Avibactam2026-06-16T14:58:47+07:00Ngô Tuấn Hưngtuanhungvb@gmail.comNguyễn Như Lâmlamnguyenau@yahoo.comTrần Đình HùngNguyễn Thị Hồng ThắmLưu Xuân DuyHoàng Mỹ DungMục tiêu: Đánh giá tình trạng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm đa kháng đối với ceftazidime-avibactam và kết quả điều trị của ceftazidime-avibactam ở các bệnh nhân bỏng nặng có biến chứng sepsis. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 34 mẫu bệnh phẩm trên bệnh nhân bỏng nặng mọc vi khuẩn Gram âm đa kháng (P. aeruginosa và K. pneumoniae) được làm kháng sinh đồ bằng hệ thống VITEK 2 Compact với thẻ kháng sinh đồ phù hợp cho vi khuẩn Gram âm. 49 bệnh nhân sepsis điều trị tại Khoa Hồi sức cấp cứu, nghi ngờ nhiễm/nhiễm P. aeruginosa hoặc K. pneumoniae được sử dụng ceftazidime-avibactam theo kinh nghiệm hoặc theo kháng sinh đồ. Kết quả: P. aeruginosa nhạy cảm cao nhất đối với kháng sinh ceftazidime-avibactam (61,11%), cao hơn so với kháng sinh ceftolozane-tazobactam (27,78%) và imipenem-relebactam (27,78%). Trong nhóm các kháng sinh β-lactam phối hợp với chất ức chế β-lactamase thế hệ mới (N-BL/BLIs), ceftazidime-avibactam có tỷ lệ nhạy cao nhất đối với K. pneumoniae (56,25%). Nồng độ ức chế tối thiểu của ceftazidime-avibactam và imipenem-relebactam đối với P. aeruginosa và K. pneumoniae là thấp nhất trong các kháng sinh thuộc N-BL/BLIs. Trong 49 bệnh nhân sepsis, có 91,84% bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn. Căn nguyên chủ yếu do P. aeruginosa (69,23% bệnh phẩm máu và 90,91% bệnh phẩm vết thương có mọc vi khuẩn). Thời gian sử dụng ceftazidime-avibactam trên bệnh nhân bỏng có sepsis có trung vị là 9 ngày. Tỷ lệ tử vong 61,22%. Kết luận: P. aeruginosa và K. pneumoniae còn nhạy cảm cao với Ceftazidime-avibactam. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân bỏng có biến chứng sepsis sử dụng ceftazidime-avibactam là 61,22%.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏnghttps://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/559Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác năm 20242026-06-10T16:45:08+07:00TS Nguyễn Thị Hồng Thắmdsthamvbqg@gmail.comNguyễn Thị Thu HươngNgô Minh Đứcyducqy@gmail.comĐặng Thị ThủyMục tiêu: Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 400 bệnh án nội trú có sử dụng kháng sinh, được lựa chọn từ quần thể 3063 bệnh nhân điều trị nội trú có sử dụng ít nhất một kháng sinh trong năm 2024; mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân tầng theo khoa lâm sàng. Các chỉ tiêu phân tích bao gồm đặc điểm bệnh nhân, đặc điểm sử dụng kháng sinh và tính hợp lý trong sử dụng. Kết quả: Nghiên cứu ghi nhận 879 đợt sử dụng kháng sinh, trung bình 2,20 ± 1,54 đợt/bệnh nhân. Số kháng sinh sử dụng trung bình là 3,08 ± 1,40 thuốc/bệnh nhân, với thời gian sử dụng trung bình 7,17 ± 3,04 ngày. Phác đồ đơn kháng sinh chiếm 61,9%, trong khi phác đồ phối hợp chiếm 38,1%. Tỷ lệ sử dụng kháng sinh hợp lý đạt mức cao về liều dùng, khoảng cách liều và phối hợp kháng sinh, lần lượt là 98,2%, 97,6% và 95,2%. Trong các khoa lâm sàng, Khoa Hồi sức cấp cứu là đơn vị có mức sử dụng kháng sinh cao nhất. Kết luận: Việc sử dụng kháng sinh nhìn chung hợp lý về liều dùng, khoảng cách liều và phối hợp. Tuy nhiên, cần tiếp tục tối ưu hóa chiến lược sử dụng kháng sinh, đặc biệt trong phối hợp và thời gian điều trị.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏnghttps://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/549Đánh giá hiệu quả điều trị của băng gạc tiên tiến ứng dụng công nghệ kháng khuẩn vật lý trên vết thương bỏng nông2026-06-10T10:02:55+07:00Nguyễn Thái Ngọc Minhminhnguyennib@gmail.comHoàng Văn VụĐặt vấn đề: Bỏng nông thường gặp, gây đau và dễ nhiễm trùng. Băng Sorbact-DACC với cơ chế kháng khuẩn vật lý hứa hẹn cải thiện điều trị. Nghiên cứu đánh giá kết quả bước đầu của băng này trên bệnh nhân bỏng nông. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc trên 30 bệnh nhân (18 - 65 tuổi) bỏng nông độ II và III nông (Lê Thế Trung), diện tích ≤ 50%, nhập Khoa Hồi sức Cấp cứu, Bệnh viện Bỏng Quốc gia (từ tháng 01 - 03/2025). Dùng băng Cutimed Sorbact, thay 2 ngày/lần. Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS, cấy vi khuẩn vết thương tại N1, N3, N7, N14. Xử lý số liệu bằng Stata 17.0, p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê. Kết quả: Tải lượng vi khuẩn (trên mẫu dương tính) tăng tại N3 (38,2 ± 15,5×10³ CFU/cm²) rồi giảm tại N7 (2,3 ± 0,8) và N14 (1,5 ± 0,2) (p < 0,001). Tỷ lệ cấy âm tính tại N7 là 53,3% và N14 là 70% (p < 0,05). Thời gian biểu mô trung bình 11,8 ± 3,2 ngày; số lần thay băng 4,5 ± 1,8. Điểm VAS giảm từ 7,1 ± 1,2 xuống 1,8 ± 0,8 (p < 0,001). Kết luận: Băng Sorbact-DACC cho kết quả bước đầu tích cực trong kiểm soát tải lượng vi khuẩn, thúc đẩy lành thương và giảm đau ở bỏng nông. Cần nghiên cứu có đối chứng cỡ lớn hơn để khẳng định hiệu quả.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏnghttps://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/562Đánh giá bước đầu tác dụng điều trị tại chỗ của gel Anson nano bạc và băng Anson nano bạc trên vết thương mạn tính nhiễm khuẩn2026-06-10T17:15:54+07:00Tiến sĩ Nguyen Thị Bích Phượngbsphuongvbqg@gmail.comPhạm Ngọc ToànHoàng Trung HiếuMục tiêu: Đánh giá tác dụng kháng khuẩn và tính an toàn của gel Anson nano bạc và băng Anson nano bạc trên vết thương mạn tính nhiễm khuẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 30 bệnh nhân có vết thương mạn tính nhiễm khuẩn. Tiến hành thay băng, đắp gel Anson nano bạc và băng Anson nano bạc theo quy trình. Đánh giá diễn biến lâm sàng tại chỗ và sự biến đổi vi khuẩn bề mặt vết thương mạn tính. Kết quả: Gel Anson nano bạc và băng Anson nano bạc làm giảm viêm nề, giảm dịch xuất tiết, kháng khuẩn, kích thích tạo mô hạt và biểu mô hóa. Không có trường hợp nào xảy ra phản ứng dị ứng. Kết luận: Gel Anson nano bạc và băng Anson nano bạc an toàn, có khả năng kháng khuẩn, chống viêm, kích thích tái tạo và biểu mô hóa vết thương mạn tính nhiễm khuẩn.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏnghttps://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/558Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở người bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An năm 20252026-06-10T16:20:04+07:00Trịnh Văn Thôngthongmedical@gmail.comNguyễn Thị ThơmNguyễn Quỳnh AnhHoàng Thị QuỳnhNguyễn Thị Bích ToànHoàng Thị HảiNguyễn Thị Thu HườngNghiên cứu mô tả tình trạng dinh dưỡng và khảo sát một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, 98 người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ, tuổi 18 - 80 tuổi tại Khoa Nội thận - Tiết niệu - Lọc máu, Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An từ tháng 01 đến tháng 08 năm 2025. Kết quả: Nghiên cứu trên 98 người bệnh, tuổi trung bình 49,68 ± 17,7 tuổi; nhóm tuổi ≥ 60 chiếm 29,6%. Tỷ lệ nữ chiếm 43,9% và nam chiếm 56,1%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo BMI là 17,3%, tỷ lệ thừa cân béo phì là 8,2%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo SGA (Subjective Global Assessment) là 68,3% trong đó có 16,3% suy dinh dưỡng nặng và 52% suy dinh dưỡng mức độ vừa. Tỷ lệ suy dinh dưỡng khi đánh giá bằng albumin chiếm tỷ lệ cao 51%. Trong phân tích đơn biến các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng theo SGA gồm hoạt động thể lực, hoạt động tư vấn dinh dưỡng cá thể, được nhận tài liệu tư vấn dinh dưỡng. Kết luận: Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở người bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ là rất cao; trong đó các yếu tố liên quan bao gồm hoạt động thể lực, hoạt động tư vấn dinh dưỡng cá thể, được nhận tài liệu tư vấn dinh dưỡng.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏnghttps://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/546Một số đặc điểm của bệnh nhân sốt liên quan đến lũ lụt nặng trên diện rộng tại Thái Nguyên2026-06-09T15:07:51+07:00Đồng Đức Hoàngdrhoang85@gmail.comBùi Ngọc Quỳnhngocquynh102018@gmail.comTrần Ngọc Thúyngocthuy23588@gmail.comMục tiêu: Mô tả một số đặc điểm chung, lâm sàng và xét nghiệm của bệnh nhân sốt có yếu tố dịch tễ liên quan đến đợt lũ lụt nặng trên diện rộng tại tỉnh Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 300 bệnh nhân có sốt (nhiệt độ ≥ 37,50C) và có yếu tố dịch tễ liên quan đến lũ lụt, được khám và điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên và Bệnh viện A Thái Nguyên trong thời gian từ 01/10/2025 đến 15/03/2026. Số liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án theo mẫu thống nhất. Các xét nghiệm được trình bày theo số ca thực hiện; tỷ lệ tăng được tính trên toàn bộ mẫu và/hoặc trên số ca được xét nghiệm; kết quả vi sinh được trình bày theo số ca thực hiện và tỷ lệ phát hiện trên toàn bộ mẫu. Kết quả: Nam giới chiếm 66,3%; nhóm tuổi 40 - 59 tuổi chiếm 41,3%; 96,0% cư trú tại khu vực ngập nặng và 66,0% thuộc nhóm sốt vừa. Triệu chứng thường gặp gồm sốt (100%), mệt mỏi (99,0%), đau đầu (36,7%), ho (24,7%), đau họng (20,0%), nôn (16,7%) và tiêu chảy (12,7%). Nhiệt độ trung bình là 38,6 ± 0,70C. Các xét nghiệm khi vào viện: Bạch cầu trung bình 9,3 ± 4,1G/L; tăng bạch cầu gặp 40,3% và giảm bạch cầu 4,0%. Tiểu cầu trung bình 211,8 ± 79,5G/L; giảm tiểu cầu gặp 7,3%. Hs-CRP tăng ở 68,7%, AST tăng 34,3%, creatinin tăng 26,7%, ALT tăng 26,3%, glucose tăng 23,3% và PCT tăng 6,7%. Tỷ lệ phát hiện tác nhân vi sinh trên toàn bộ mẫu thấp: Cấy máu dương tính 4/300 (1,3%), test Dengue dương tính 2/300 (0,7%) và phát hiện virus cúm 2/300 (0,7%); các xét nghiệm vi sinh khác có số ca thực hiện nhỏ. Kết luận: Bệnh nhân sốt liên quan đến lũ lụt tại Thái Nguyên chủ yếu là nam giới, thuộc nhóm tuổi lao động, cư trú ở khu vực ngập nặng và phần lớn có sốt vừa. Biểu hiện lâm sàng thường không đặc hiệu, nổi bật là sốt, mệt mỏi, đau đầu, ho, đau họng và một số triệu chứng tiêu hóa. Xét nghiệm cho thấy tình trạng viêm nổi bật qua tỷ lệ tăng Hs-CRP, kèm tăng bạch cầu và một tỷ lệ bệnh nhân có bất thường men gan, creatinin hoặc glucose; tỷ lệ phát hiện tác nhân vi sinh trên toàn bộ mẫu thấp do xét nghiệm vi sinh được thực hiện chọn lọc với mẫu số nhỏ. Cần tiếp cận chẩn đoán theo hội chứng, phân tầng mức độ nặng và tăng cường xét nghiệm có mục tiêu trong giám sát bệnh truyền nhiễm sau lũ.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏnghttps://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/510Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 20252026-05-25T16:14:37+07:00Đỗ Thu ThủyNguyễn Thị Thúy NgaNguyễn Thị ThảoTrương Thúy QuỳnhVương Thị HuyềnĐăng Thị Loanloandt@thanglong.edu.vnMục tiêu: Đánh giá chất lượng cuộc sống và tìm hiểu một số yếu tố liên quan ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 81 người bệnh lọc máu chu kỳ. Thang đo Kidney Disease Quality of Life-36 (KDQOL-36) được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh thông qua phỏng vấn trực tiếp. Kết quả: Điểm trung bình các lĩnh vực chất lượng cuộc sống bao gồm: Gánh nặng bệnh thận 36,7 ± 14,4; sức khỏe thể chất 47,9 ± 30,7; sức khỏe tâm lý 54,8 ± 19,9; triệu chứng và vấn đề liên quan 73,3 ± 12,2; ảnh hưởng của bệnh thận đến cuộc sống hằng ngày 75,4 ± 8,4. Kết quả cho thấy có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về chất lượng cuộc sống theo tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thời gian lọc máu, thu nhập trung bình hộ gia đình, khả năng chi trả dịch vụ y tế, địa vị xã hội và chỉ số BMI (p < 0,05). Kết luận: Người bệnh lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa có điểm chất lượng cuộc sống thấp nhất ở khía cạnh gánh nặng bệnh thận và cao nhất là ảnh hưởng của bệnh thận đến cuộc sống hằng ngày. Cần có những biện pháp can thiệp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhóm người bệnh trên.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏnghttps://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/551Chất lượng giấc ngủ và yếu tố liên quan ở người bệnh sau phẫu thuật ổ bụng tại Khoa ngoại tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2024 - 20252026-06-08T10:12:19+07:00Thạc sĩ Đoàn Thị Ngangadt@dainam.edu.vnThạc sĩ Trần Thị Thảothaott@dainam.edu.vnMục tiêu: Đánh giá chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan ở người bệnh sau phẫu thuật ổ bụng tại khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2024 - 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 90 người bệnh từ 18 tuổi trở lên, trong 3 ngày đầu sau phẫu thuật ổ bụng. Công cụ thu thập dữ liệu gồm: Bộ công cụ đánh giá chất lượng giấc ngủ (Richard-Campbell Sleep Questionnaire: RCSQ); bộ công cụ đánh giá đau (Numeric Rating Scale: NRS); thang đo lo âu (HADS-A) và bộ câu hỏi môi trường bệnh phòng. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0; sử dụng thống kê mô tả, kiểm định t độc lập và hệ số tương quan Pearson/Spearman (p < 0,05). Kết quả: Đối tượng chủ yếu trên 56 tuổi (42,2%) và từ 18 - 35 tuổi (35,6%), nữ giới chiếm 55,6%. Phẫu thuật nội soi chiếm đa số (71,1%). Điểm chất lượng giấc ngủ trung bình tăng dần từ đêm 1 đến đêm 3, nhưng nhìn chung ở mức trung bình. Phẫu thuật nội soi và nhóm có sử dụng thuốc giảm đau/thuốc an thần có chất lượng giấc ngủ tốt hơn rõ rệt (p < 0,05). Lo âu có tương quan nghịch rõ nhất với chất lượng giấc ngủ ở đêm đầu; đau có tương quan nghịch tăng dần qua các đêm và cao nhất ở đêm thứ ba. Các yếu tố nhiễu từ môi trường bệnh phòng (tiếng ồn, ánh sáng, hoạt động điều trị) cũng tương quan nghịch có ý nghĩa với chất lượng giấc ngủ (p < 0,05), ảnh hưởng rõ nhất từ đêm thứ hai. Kết luận: Chất lượng giấc ngủ của người bệnh sau phẫu thuật ổ bụng còn hạn chế. Đau, lo âu và môi trường bệnh phòng là những rào cản chính. Điều dưỡng cần tối ưu hóa kiểm soát đau, hỗ trợ tâm lý và cải thiện môi trường yên tĩnh để nâng cao giấc ngủ và thúc đẩy hồi phục cho người bệnh.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏnghttps://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/513Chăm sóc nhiễm khuẩn vết mổ phức tạp theo nguyên tắc T.I.M.E.S kết hợp Metronidazol 0,5% tại Khoa Phẫu thuật Lồng ngực, Bệnh viện Bạch Mai năm 2023: Báo cáo chùm ca bệnh2025-10-28T10:40:53+07:00Phùng Văn ThắngLương Thị HòaĐăng Thị Loanloandt@thanglong.edu.vnMục tiêu: Mô tả kết quả chăm sóc vết thương theo nguyên tắc TIMES kết hợp Metronidazol 0,5% tại chỗ ở 12 người bệnh nhiễm khuẩn vết mổ tại Khoa Phẫu thuật Lồng ngực, Bệnh viện Bạch Mai năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo chùm ca bệnh trên 12 người bệnh nhiễm khuẩn vết mổ được chăm sóc theo nguyên tắc TIMES, kết hợp sử dụng dung dịch Metronidazol 0,5% tại chỗ và điều trị toàn diện theo phác đồ. Kết quả được đánh giá dựa trên diễn biến vết thương, kết quả điều trị và thời gian nằm viện. Kết quả: Trong 12 trường hợp nghiên cứu, 8 trường hợp (66,7%) khỏi ra viện (gồm 6 ca liền sẹo tự nhiên và 2 ca khâu da thì hai); 4 trường hợp (33,3%) có vết thương sạch, mô hạt phát triển tốt và được chuyển khoa để phẫu thuật tạo hình, chuyển vạt che phủ. Thời gian nằm viện trung bình là 16,08 ± 11,57 ngày. Kết luận: Trong chùm ca bệnh này, chăm sóc vết thương theo nguyên tắc TIMES kết hợp dung dịch Metronidazol 0,5% tại chỗ và điều trị toàn diện cho kết quả lâm sàng khả quan ở người bệnh SSI. Tuy nhiên, do thiết kế báo cáo chùm ca bệnh và tính không đồng nhất của các vết thương, chưa thể khẳng định hiệu quả riêng của Metronidazol 0,5%. Cần có thêm các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và phương pháp nghiên cứu phù hợp để làm rõ vai trò của biện pháp này.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏnghttps://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/426Cập nhật các phương pháp đánh giá mức độ đau - giảm đau trong gây mê2025-06-05T15:41:58+07:00Nguyễn Đăng Thứnguyendangthu@vmmu.edu.vnPSG, TS Trần Đắc TiệpTS Trần Hoài NamTS Võ Văn Hiểnvanhien103@gmail.comTS Đỗ Văn LợiĐánh giá đúng mức độ đau - giảm đau trong gây mê giúp điều chỉnh thuốc giảm đau phù hợp cho người bệnh qua đó góp phần ổn định trong phẫu thuật, hồi tỉnh nhanh, giảm nguy cơ đau cấp tính nặng và đau mạn tính sau phẫu thuật. Kinh điển thường sử dụng chỉ số nhịp tim và huyết áp để đánh giá đau - giảm đau trong gây mê. Tuy nhiên do bị chồng lấn bởi tác dụng của thuốc mê nên chúng phản ánh không hoàn toàn trung thực tình trạng đau - giảm đau. Nhiều thiết bị theo dõi với các nguyên lý khác nhau đã được phát triển và áp dụng nhằm lượng giá mức độ đáp ứng của cơ thể với kích thích phẫu thuật. Mỗi chỉ số có đích theo dõi, nguyên lý hình thành và có yếu tố ảnh hưởng khác nhau. Bài viết này nhằm cập nhật thông tin về các phương pháp đánh giá tình trạng đau - giảm đau trong gây mê, những ưu điểm, hạn chế và khả năng áp dụng.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏnghttps://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/586Hoàng liên giải độc thang thành phần hoạt tính và tác dụng dược lý của bài thuốc2026-08-13T08:19:12+07:00PGS.TS Chu Anh Tuấndrchuanhtuan@gmail.comĐoàn Chí ThanhHoàng liên giải độc thang là bài thuốc cổ phương có tác dụng thanh nhiệt giải độc, được ứng dụng trong điều trị nhiều bệnh, trong đó có bỏng, đặc biệt là trong việc chống lại bệnh do virus corona 2019 (COVID-19). Hoàng liên giải độc thang (HLGĐT) được phối hợp từ 4 vị thuốc gồm Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá và Chi tử theo tỷ lệ 3 : 2 : 2 : 3, chủ trị các chứng nhất thiết thực nhiệt hỏa độc, tam tiêu nhiệt thịnh; có nhiều tác dụng dược lý như kháng vi sinh vật gây bệnh, kháng viêm, dị ứng, chống oxy hóa, can thiệp vào các khối u, bệnh lý ở gan, não, rối loạn chuyển hoá; trên lâm sàng được sử dụng rộng rãi để điều trị các bệnh như nhiễm khuẩn huyết, viêm loét đại tràng, đột quỵ do thiếu máu cục bộ, đái tháo đường type 2, bệnh Alzheimer. Đã có nhiều nghiên cứu cơ bản cho thấy HLGĐT có thành phần, tác dụng điều trị và chỉ định lâm sàng rõ ràng.2026-07-30T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng