Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb <p>Lịch sử phát tri&ecirc;̉n<br />Ngày 03 tháng 01 năm 1992, Tờ Th&ocirc;ng tin Bỏng ra s&ocirc;́ đ&acirc;̀u ti&ecirc;n<br />Ng&agrave;y 20 th&aacute;ng 3 năm 2001, Bộ Văn h&oacute;a &ndash; Th&ocirc;ng tin (nay l&agrave; Bộ Th&ocirc;ng tin v&agrave; Truyền th&ocirc;ng) ra Quyết định số 78/GP-BVHTT cấp giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; cho Tạp ch&iacute; Y học Thảm họa v&agrave; Bỏng thuộc Viện Bỏng Quốc gia L&ecirc; Hữu Tr&aacute;c. Kể từ khi ra mắt bạn đọc số đầu ti&ecirc;n cho tới nay, Tạp ch&iacute; Y học thảm hoạ v&agrave; Bỏng đ&atilde; được cấp ph&eacute;p sửa đổi n&acirc;ng kỳ xuất bản l&ecirc;n 6 số/năm (Giấy ph&eacute;p hoạt động b&aacute;o ch&iacute; số 1311/GP-BTTTT, ng&agrave;y 23/7/2012;) v&agrave; c&aacute;c số Tạp ch&iacute; chuy&ecirc;n đề phục c&aacute;c Hội nghị Khoa học.</p> <p>Ngày 18 tháng 12 năm 2009, Tạp ch&iacute; Y học Thảm họa v&agrave; Bỏng được Bộ khoa học và c&ocirc;ng ngh&ecirc;̣ qu&ocirc;́c gia c&acirc;́p mã s&ocirc;́ chu&acirc;̉n qu&ocirc;́c t&ecirc;́ p-ISSN 1859 - 3461 cho tạp ch&iacute; loại h&igrave;nh in.</p> <p>Ngày 09 tháng 12 năm 2021: Tạp ch&iacute; Y học Thảm hoạ v&agrave; Bỏng được cấp chỉ số DOI m&atilde; số 10.54804</p> <p>Ng&agrave;y 06 th&aacute;ng 7 năm 2023: Bộ Th&ocirc;ng tin &amp; Truyền th&ocirc;ng cấp lại giấy ph&eacute;p hoạt động Tạp ch&iacute; Y học thảm hoạ v&agrave; Bỏng (loại h&igrave;nh in) v&agrave; thực hiện th&ecirc;m loại h&igrave;nh tạp ch&iacute; điện tử.</p> <p>Ngày 28 tháng 11 năm 2023, Tạp ch&iacute; Y học Thảm họa v&agrave; Bỏng loại h&igrave;nh điện tử được Cục Khoa học và C&ocirc;ng ngh&ecirc;̣ Qu&ocirc;́c gia c&acirc;́p mã s&ocirc;́ chu&acirc;̉n qu&ocirc;́c t&ecirc;́ e-ISSN 3030 - 4008.</p> <p>T&ocirc;n chỉ, mục đ&iacute;ch hoạt động b&aacute;o ch&iacute;:&nbsp;<br />+ Giới thiệu c&aacute;c c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu của c&aacute;c nh&agrave; khoa học trong lĩnh vực y học thảm họa v&agrave; bỏng, liền vết thương, phẫu thuật tạo h&igrave;nh, v&agrave; c&aacute;c chuy&ecirc;n ng&agrave;nh y học kh&aacute;c.<br />+ Th&ocirc;ng tin c&aacute;c vấn đề c&oacute; li&ecirc;n quan về chuy&ecirc;n m&ocirc;n ở trong nước v&agrave; quốc tế.<br />+ Cung cấp tư liệu cho c&aacute;n bộ y tế tr&ecirc;n to&agrave;n quốc v&agrave; bạn đọc quan t&acirc;m<br />+ Đối tượng phục vụ: C&aacute;c nh&agrave; khoa học, c&aacute;c nh&agrave; nghi&ecirc;n cứu, c&aacute;n bộ quản l&yacute;, giảng vi&ecirc;n, vi&ecirc;n chức, nghi&ecirc;n cứu sinh, học vi&ecirc;n cao học, sinh vi&ecirc;n v&agrave; bạn đọc quan t&acirc;m. <br />+ Ph&aacute;t h&agrave;nh tr&ecirc;n phạm vi to&agrave;n quốc</p> <p>Trong thời gian hoạt động, Tạp ch&iacute; Y học Thảm họa v&agrave; Bỏng đ&atilde; thực hiện đ&uacute;ng t&ocirc;n chỉ, mục đ&iacute;ch, chất lượng ng&agrave;y c&agrave;ng n&acirc;ng cao cả về nội dung v&agrave; h&igrave;nh thức g&oacute;p phần đẩy mạnh c&ocirc;ng t&aacute;c ph&ograve;ng, điều trị v&agrave; nghi&ecirc;n cứu khoa học về bỏng cho cộng đồng v&agrave; c&aacute;n bộ y tế trong to&agrave;n quốc, đặc biệt g&oacute;p phần kh&ocirc;ng nhỏ trong c&ocirc;ng t&aacute;c ph&ograve;ng v&agrave; chống thảm họa thi&ecirc;n nhi&ecirc;n tại Việt Nam.&nbsp;</p> <p>Nhằm đáp ứng nhu c&acirc;̀u phát tri&ecirc;̉n ngày càng phát tri&ecirc;̉n của khoa học, Tạp ch&iacute; đã x&acirc;y dựng ra website Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng phi&ecirc;n bản online phục vụ c&aacute;c nh&agrave; nghi&ecirc;n cứu v&agrave; độc giả thuận tiện hơn.</p> <p>Độc giả c&oacute; nhu cầu tham khảo chi tiết th&ocirc;ng tin b&agrave;i nghi&ecirc;n cứu khoa học hoặc gửi b&agrave;i đăng xin vui lòng li&ecirc;n h&ecirc;̣ với tòa soạn Tạp chí<br />Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng.<br />Tầng 3 to&agrave; nh&agrave; Đ2 - Bệnh vi&ecirc;̣n Bỏng Qu&ocirc;́c gia L&ecirc; Hữu Tr&aacute;c<br />S&ocirc;́ 263 Phùng Hưng - Phúc La - Hà Đ&ocirc;ng - Hà N&ocirc;̣i<br />ĐT: 069 566626 * fax: 84.0243 6883180<br />Email: tcbongvn@yahoo.com; thư k&yacute; to&agrave; soạn: Trần Xu&acirc;n Việt - 0989536261</p> vi-VN Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Đặc điểm dịch tễ, tổn thương, biến chứng và thời điểm tử vong ở người bệnh bỏng cao tuổi: Nghiên cứu hồi cứu các trường hợp tử vong tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác giai đoạn 2021 - 2025 https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/571 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, tổn thương, biến chứng và thời điểm tử vong ở người bệnh bỏng ≥ 60 tuổi; so sánh với nhóm < 60 tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát hồi cứu, mô tả có phân tích trên 77 người bệnh ≥ 60 tuổi trong số 348 người bệnh tử vong do bỏng tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác giai đoạn 2021 - 2025. Kết quả: Người bệnh ≥ 60 tuổi chiếm 22,13% số trường hợp nghiên cứu. So với nhóm <60 tuổi, nhóm cao tuổi có tỷ trọng nữ cao hơn (45,45% so với 22,14%; p < 0,001) và tỷ lệ có bệnh nền mạn tính cao hơn (35,06% so với 4,80%; p < 0,001). Diện tích bỏng chung trung vị ở nhóm cao tuổi là 35% diện tích cơ thể (DTCT: Diện tích cơ thể) và diện tích bỏng sâu là 24% DTCT, thấp hơn nhóm < 60 tuổi tương ứng 70% và 44% DTCT (p < 0,001). Bỏng hô hấp gặp ở 31,17% trường hợp cao tuổi. Hội chứng suy đa tạng và sốc nhiễm khuẩn được ghi nhận lần lượt ở 49,35% và 45,45%, có 55,84% trường hợp ghi nhận kết cục sau ngày thứ 7. Diện tích bỏng sâu và phẫu thuật tuần đầu có liên quan với thời điểm ghi nhận kết cục trong phân tích đơn biến. Kết luận: Các trường hợp tử vong ở người bệnh bỏng cao tuổi có tỷ lệ bệnh nền cao nhưng mức độ tổn thương bỏng thấp hơn nhóm < 60 tuổi. Hơn một nửa kết cục xảy ra sau ngày thứ 7. Mối liên quan giữa phẫu thuật tuần đầu và thời điểm kết cục cần được diễn giải thận trọng, không phản ánh quan hệ nhân quả. Ngô Minh Đức, Nguyễn Thị Hồng Thắm, Lê Văn Hải, Nguyễn Ngọc Hải Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/571 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Đặc điểm đề kháng kháng sinh của nhóm vi khuẩn ESKAPEE và hiệu quả bao phủ in vitro của phác đồ phối hợp dựa trên kháng sinh đồ tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác Lê Hữu Trác năm 2023 - 2024 https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/550 Mục tiêu: Mô tả mức độ đề kháng kháng sinh của các tác nhân chính trong nhóm ESKAPEE và đánh giá bước đầu tỷ lệ bao phủ in vitro của một số phác đồ phối hợp bằng phương pháp kháng sinh đồ trực tiếp từ dữ liệu thực tế tại một trung tâm bỏng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 160 chủng vi khuẩn phân lập lần đầu từ bệnh nhân bỏng và vết thương mạn tính (01/2023 - 12/2024). Định danh và nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) được xác định bằng máy VITEK 2 Compact, phiên giải theo điểm cắt lâm sàng của Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và Xét nghiệm Hoa Kỳ (CLSI) năm 2023. Để đảm bảo so sánh đồng nhất, các phân tích chuyên sâu (bao gồm Colistin) chỉ thực hiện trên những chủng có kết quả kháng sinh đồ hoàn chỉnh, cụ thể là 19 chủng Acinetobacter baumannii và 30 chủng Pseudomonas aeruginosa. Kết quả: Tỷ lệ phân lập trên các chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus (31,3%), P. aeruginosa (29,4%) và A. baumannii (23,1%) chiếm ưu thế. Tỷ lệ kháng sinh đồ đầy đủ đạt 96,3% ở mẫu máu nhưng chỉ 28,6% ở mẫu vết thương. Trong nhóm phân tích chính, mức độ nhạy cảm với meropenem rất thấp, lần lượt là 15,8% đối với A. baumannii và 16,7% đối với P. aeruginosa. Colistin còn hoạt tính in vitro cao (100% ở A. baumannii với mức trung gian MIC ≤ 2mg/L, 90,0% ở P. aeruginosa). Phác đồ meropenem + colistin bao phủ 100% và 90,0%, không khác biệt so với Colistin đơn độc, cho thấy việc thêm carbapenem không làm tăng thêm độ bao phủ in vitro. Tỷ lệ MRSA là 82,0% (41/50), tất cả còn nhạy với vancomycin (100%) và 96,0% (48/50) với linezolid. Kết luận: Dữ liệu in vitro bước đầu gợi ý phác đồ chứa Colistin đạt độ bao phủ cao nhất, nhưng điều này chủ yếu là do hoạt tính của colistin đơn trị. Các kết quả cần được diễn giải thận trọng do phương pháp đo Colistin chưa phải tiêu chuẩn vàng, cỡ mẫu hạn chế và đây chỉ là phân tích bao phủ in vitro, chưa đánh giá hiệp đồng diệt khuẩn hay kết cục lâm sàng. Nguyễn Thái Ngọc Minh, Hoàng Mỹ Dung Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/550 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá hiệu quả của liệu pháp hút áp lực âm trong điều trị loét bàn chân do đái tháo đường tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/560 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của liệu pháp VAC so với thay băng thông thường trong điều trị người bệnh loét bàn chân do tiểu đường (DFU). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng được tiến hành tại Bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025. Tổng cộng 54 người bệnh được chẩn đoán mắc DFU và đáp ứng các tiêu chí lựa chọn đã được ghi nhận và phân ngẫu nhiên thành hai nhóm: Nhóm điều trị VAC (n = 27) và nhóm thay băng thông thường (n = 27). Các đặc điểm ban đầu bao gồm tuổi, giới tính, phân loại Wagner và các bệnh đi kèm đã được ghi nhận. Liệu pháp VAC được áp dụng với áp lực âm duy trì ở mức 125mmHg và được thay 24 - 48 giờ. Nhóm thay băng thông thường được thay băng gạc tẩm nước muối sinh lý hàng ngày. Quá trình lành vết thương được đánh giá bằng điểm số thị giác mô hạt, mức độ giảm kích thước vết loét và thời gian hoàn thành biểu mô hóa. Mức độ đau được đánh giá bằng thang điểm VAS và tỷ lệ nhiễm trùng được ghi nhận. Phân tích thống kê được thực hiện bằng SPSS 24.0, với giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa. Kết quả: Người bệnh trong nhóm điều trị bằng VAC cho thấy thời gian lành vết thương ngắn hơn đáng kể (trung bình 24,3 ± 5,1 ngày) so với nhóm thay băng thông thường (trung bình 39,8 ± 6,4 ngày, p < 0,001). Tốc độ hình thành mô hạt trung bình cao hơn ở nhóm VAC (2,3 cm²/ngày) so với nhóm thay băng thông thường (1,4 cm²/ngày, p = 0,002). Tỷ lệ giảm diện tích vết loét ở nhóm VAC (74,5%) cao hơn đáng kể so với nhóm thay băng thông thường (48,7%, p < 0,001). Điểm đau (VAS) sau 24 và 48 giờ thấp hơn ở nhóm điều trị bằng VAC (p < 0,05), cho thấy khả năng kiểm soát đau tốt hơn. Tỷ lệ nhiễm trùng cũng giảm ở nhóm VAC (14,8%) so với nhóm thay băng thông thường (29,6%). Tỷ lệ chảy máu và cắt cụt chi nhỏ không khác biệt đáng kể giữa các nhóm. Kết luận: Liệu pháp VAC cải thiện đáng kể quá trình lành vết thương ở người bệnh DFU so với thay băng thông thường: Hình thành mô hạt nhanh hơn, rút ngắn tổng thời gian lành vết thương, rút ngắn thời gian điều trị. Trịnh Văn Thông, Nguyễn Ngọc Sơn, Đinh Xuân Chương Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/560 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Kết quả điều trị bệnh nhân đái tháo đường biến chứng nhiễm toan CETON tại Bệnh viện Quân y 175 https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/564 Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị và khảo sát một số yếu tố liên quan đến kết cục điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường biến chứng nhiễm toan ceton tại Bệnh viện Quân y 175. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, tiến hành trên 48 bệnh nhân đái tháo đường biến chứng nhiễm toan ceton điều trị tại Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 02/2024 đến tháng 10/2025. Kết quả: Nghiên cứu trên 48 bệnh nhân DKA cho thấy tuổi trung bình là 46,2 ± 15,1; nữ giới chiếm 64,6%. Đái tháo đường típ 2 chiếm 68,8%, trong đó 54,2% bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường lần đầu; nhiễm trùng là yếu tố khởi phát thường gặp nhất (62,5%). DKA mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (58,3%). Tỷ lệ hết DKA đạt 91,7%, thời gian hết DKA trung bình 32,4 ± 12,3 giờ; thời gian nằm viện trung bình 8,9 ± 4,1 ngày; tỷ lệ sống ra viện đạt 95,8%. Hạ đường huyết (29,2%) và hạ kali máu (25,0%) là các biến chứng thường gặp nhất. Tuổi ≥ 65, DKA nặng và rối loạn ý thức khi nhập viện liên quan với kết cục điều trị không thuận lợi (p < 0,05). Kết luận: Đa số bệnh nhân nhiễm toan ceton do đái tháo đường đáp ứng tốt với điều trị. Tuổi cao, DKA nặng và rối loạn ý thức khi nhập viện có liên quan đến kết cục điều trị không thuận lợi. Bùi Đức Thành Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/564 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Kiến thức về điểu trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/512 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là cơ sở khám chữa bệnh tuyến cuối, tiếp nhận số lượng lớn người bệnh BPTNMT, trong đó nhiều trường hợp nhập viện do đợt cấp. Công tác tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh về tuân thủ điều trị giúp ngăn chặn đợt cấp, cải thiện chất lượng cuộc sống. Mục tiêu: Mô tả kiến thức về điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2022. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 103 người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nằm điều trị nội trú tại khoa A1C, A1A và khoa A5, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, sử dụng cách chọn mẫu toàn bộ. Thông tin được thu thập bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn theo hình thức phát vấn trực tiếp. Kết quả: Có 24,3% người bệnh biết bản thân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, có 41,7% người bệnh không biết bệnh có thể chữa khỏi được hay không; 86,4% người bệnh cho rằng việc điều trị thuốc duy trì là cần thiết, tỷ lệ người bệnh biết về các liệu pháp điều trị không dùng thuốc chưa cao. Đa số người bệnh biết về các dấu hiệu nguy hiểm cần đi khám là khó thở; ho, khạc đờm hoặc đi khám lại khi hết thuốc (77,7 %; 66,0%; 89,3%). Tỷ lệ người bệnh nhận biết tăng nhịp tim và mệt khi đi lại nhanh là dấu hiệu cần đi khám còn thấp, lần lượt là 32,0% và 37,9%. Đa số người bệnh nghiên cứu cho rằng cần đi khám khi bệnh nặng lên chiếm 50,5%; không cần thay đổi (36,9%) và có thể tự tăng liều thuốc (12,6%). Kết luận: Kiến thức của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính về điều trị nhìn chung còn chưa đầy đủ, cần rà soát và tư vấn giáo dục sức khỏe có trọng tâm cho người bệnh. Đỗ Quang Tuyển, Lê Thị Dung, Lê Đức Sang, Hà Thị Huyền Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/512 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Phản hồi về chương trình đào tạo và mức độ tự tin của điều dưỡng trước và sau đào tạo chăm sóc vết thương tại 3 bệnh viện miền Bắc Việt Nam https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/555 Đặt vấn đề: Chăm sóc vết thương chiếm tỷ lệ lớn trong thực hành lâm sàng của điều dưỡng, đòi hỏi kiến thức, kỹ năng và sự tự tin, trong đó đào tạo liên tục đóng vai trò then chốt. Mục tiêu: Đánh giá phản hồi của điều dưỡng về chương trình đào tạo chăm sóc vết thương theo chuẩn năng lực điều dưỡng Việt Nam năm 2023 và mô tả sự thay đổi mức độ tự tin của điều dưỡng trước và sau khóa học 6 tuần tại 3 bệnh viện. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu bán thực nghiệm một nhóm, đánh giá trước - sau can thiệp, khảo sát toàn bộ 135 điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh có vết thương tại 3 bệnh viện, đã hoàn thành chương trình đào tạo năm 2023. Kết quả: Trên 90% điều dưỡng hoàn toàn đồng ý/đồng ý với tất cả các nội dung chương trình đào tạo, cao nhất ở nội dung nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh (59,3%). Sau đào tạo 6 tuần, mức độ tự tin tăng có ý nghĩa thống kê ở cả 13 kỹ năng (tỷ lệ rất tự tin từ 8,1 - 15,6%; tỷ lệ tự tin từ 40,7 - 45,2%; p < 0,05), nổi bật ở một số kỹ năng giao tiếp - ứng xử, nhận định vết thương và người bệnh. Kỹ năng ra quyết định chăm sóc, chăm sóc vết thương nhiễm khuẩn và loét tỳ đè còn cần tiếp tục cải thiện. Kết luận: Chương trình được điều dưỡng đánh giá tích cực và mức độ tự tin tự báo cáo sau đào tạo 6 tuần được cải thiện ở các kỹ năng khảo sát. Phan Thị Dung, Đào Khắc Hùng, Đỗ Thị Thủy, Nguyễn Thị Phương, Thái Nhật Lệ Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/555 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Đặc điểm lâm sàng và kết quả tạo hình tổn khuyết phần mềm ngón cái tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/602 Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng, hình thái tổn khuyết phần mềm ngón cái và kết quả tạo hình bằng chuyển vạt tổ chức tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 1/2020 - 12/2025. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh theo dõi dọc, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên 34 bệnh nhân có tổn khuyết phần mềm ngón cái được phẫu thuật bằng chuyển vạt tổ chức tại Khoa Phẫu thuật Hàm mặt - Tạo hình - Thẩm mỹ, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2025. Các đặc điểm lâm sàng, hình thái tổn thương, phương pháp tạo hình và kết quả điều trị được thu thập và phân tích. Kết quả: Nam giới chiếm 76,5%, tuổi trung bình 43 ± 16 tuổi. Tai nạn lao động là nguyên nhân chủ yếu gây tổn thương (64,7%). Tổn khuyết phần mềm chủ yếu gặp ở vùng 1/3 xa ngón cái (73,5%) và có hướng chéo mặt gan tay (61,8%). Tổn thương phối hợp xương, gân và khớp lần lượt chiếm 38,2%, 29,4% và 35,3%. Sử dụng vạt mạch xuyên động mạch mu đốt bàn tay xuôi dòng là phương pháp phẫu thuật được áp dụng nhiều nhất (55,9%), tiếp theo là vạt SCIP tự do (20,6%). Tỷ lệ sống hoàn toàn của vạt đạt 97,1%, chỉ ghi nhận 1 trường hợp hoại tử dưới 1/3 diện tích vạt. Sẹo phẳng tại nơi cho và nơi nhận vạt lần lượt chiếm 91,2% và 94,1%. Hình thể ngón cái bình thường đạt 97,1%, móng bình thường đạt 82,4%. Sau phẫu thuật, 76,5% bệnh nhân phục hồi vận động tốt theo thang điểm Kapandji, mức phục hồi cảm giác S3+ theo phân loại BMRC chiếm tỷ lệ cao nhất (58,8%). Tỷ lệ bệnh nhân rất hài lòng và hài lòng với kết quả điều trị đạt 91,2% Kết luận: Sử dụng các vạt tổ chức là phương pháp điều trị hiệu quả và đáng tin cậy trong điều trị tổn khuyết phần mềm ngón cái, giúp che phủ tổn khuyết, phục hồi tối đa chức năng của ngón cái, cải thiện thẩm mỹ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Trần Thị Thanh Huyền, Tô Tuấn Linh, Vũ Đình Đề, Vi Thế Quang, Nguyễn Hồng Hà Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/602 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Một số đặc điểm lâm sàng và dấu hiệu siêu âm, cộng hưởng từ ở người bệnh vỡ túi độn ngực silicone https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/603 Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng và dấu hiệu hình ảnh trên siêu âm, cộng hưởng từ của người bệnh vỡ túi ngực. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 20 người bệnh nghi ngờ vỡ túi ngực đã được phẫu thuật và chẩn đoán xác định tại khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ - Bệnh viện Bưu Điện và khoa Vi phẫu, Tạo hình Thẩm mỹ Hàm mặt và Laser từ 07/2024 đến 06/2026. Kết quả: 20 người bệnh tuổi trung bình 44,3±10,17 với 29 túi ngực (tuổi túi ngực trung bình 11,67±3,9 năm) được phẫu thuật và chẩn đoán vỡ. Trong đó 28 túi vỡ trong bao, một túi vỡ ngoài bao. 70% người bệnh có tiền sử sử dụng áo ngực có gọng thường xuyên, 100% người bệnh không có tiền sử chấn thương ngực. 68,97% ngực không có triệu chứng cơ năng, phần còn lại có căng tức hoặc đau vú. Đa số túi ngực nghi vỡ không có triệu chứng thực thể và được phân loại bao xơ độ I theo Baker. Siêu âm có độ nhạy chẩn đoán vỡ đạt 93,1%, trong đó, dấu hiệu chẩn đoán có độ nhạy cao nhất là ổ tụ dịch tăng âm quanh túi ngực (100%). Cộng hưởng từ có độ nhạy chẩn đoán vỡ đạt 100% và dấu hiệu sợi mì là dấu hiệu có độ nhạy chẩn đoán cao nhất. Kết luận: Các trường hợp vỡ túi ngực thường không có triệu chứng cơ năng và thực thể rõ ràng. Triệu chứng lâm sàng có thể gặp bao gồm căng tức, đau ngực, mất cân đối ngực. Cộng hưởng từ có độ nhạy chẩn đoán vỡ túi ngực lên tới 100%, cao hơn siêu âm với 93,1%. Dương Nguyễn Việt Anh, Phạm Thị Việt Dung, Hoàng Mạnh Ninh, Nguyễn Minh Nghĩa, Vũ Văn Đức, Trần Hồng Nguyên, Lê Hữu Điền Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/603 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Xây dựng quy trình số hóa mô hình 3D giải phẫu tim ứng dụng trong đào tạo y khoa https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/548 Mục tiêu: Xây dựng quy trình số hóa mô hình nhựa 3D giải phẫu tim sử dụng công nghệ quét bằng thiết bị di động và đánh giá độ chính xác hình học của sản phẩm số hóa so với mô hình thực. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là mô hình nhựa giải phẫu tim của hãng 3B Scientific được sử dụng trong đào tạo, huấn luyện tại Bộ môn Giải phẫu, Học viện Quân y. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm mô tả: tạo mô hình 3D bằng ứng dụng KIRI Engine (công nghệ LiDAR/Photogrammetry), xử lý hậu kỳ trên phần mềm Blender 4.1; kích thước mô hình thực được đo trực tiếp bằng thước kẹp vi sai kỹ thuật số (mốc chuẩn vàng), kích thước mô hình số hóa được đo trên Blender sau khi chuẩn hóa tỷ lệ, trên 25 chỉ số giải phẫu đã được liệt kê cụ thể. Độ chính xác được kiểm định bằng chỉ số tương đồng Cosine và hệ số tương quan R². Kết quả: Nghiên cứu đã xây dựng thành công quy trình số hóa gồm 3 giai đoạn: Quét mẫu, Xử lý kỹ thuật và Xuất bản. Kết quả định lượng cho thấy mô hình 3D có độ tương đồng rất cao so với thực tế, với hệ số Cosine trung bình đạt 0,999 và hệ số tương quan R² = 0,997. Sai lệch kích thước trung bình của các cấu trúc nhỏ hơn 5%. Kết luận: Xây dựng thành công quy trình số hóa mô hình giải phẫu tim 3D bằng các công cụ chi phí thấp (điện thoại thông minh, phần mềm mã nguồn mở), đạt độ chính xác hình học cao - điều kiện cần để ứng dụng trong đào tạo y khoa; đây là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo đánh giá hiệu quả sư phạm thực tế trên sinh viên. Đặng Xuân Kiên, Đỗ Xuân Tuyền, Đỗ Xuân Hai Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/548 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá mức độ lo âu và các yếu tố liên quan trước thủ thuật chọc hút noãn để thụ tinh trong ống nghiệm https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/553 Mục tiêu: Đánh giá mức độ lo âu trước thủ thuật chọc hút noãn ở bệnh nhân điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) bằng thang điểm GAD-7 và phân tích một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 102 bệnh nhân vô sinh có chỉ định chọc hút noãn trong chương trình IVF tại Viện Mô phôi Lâm sàng Quân đội từ tháng 9/2025 –- 3/2026, được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Mức độ lo âu được đánh giá bằng thang điểm GAD-7 trước gây mê. Các yếu tố liên quan được phân tích bằng kiểm định Chi-square hoặc Fisher’s exact test. Kết quả: Điểm lo âu trung bình theo GAD-7 là 9,25 ± 4,19 điểm. Lo âu mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (38,2%). Tuổi bệnh nhân, thời gian vô sinh, tình trạng đã có con và áp lực từ gia đình có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ lo âu trước thủ thuật (p < 0,05). Kết luận: Lo âu trước thủ thuật chọc hút noãn khá phổ biến ở bệnh nhân IVF, chủ yếu ở mức độ trung bình. Mức độ lo âu có mối liên quan đến các yếu tố như tuổi bệnh nhân, thời gian vô sinh, tình trạng đã có con hay chưa và áp lực gia đình. Trịnh Thế Sơn, Đoàn Vân Anh, Võ Văn Hiển Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/553 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá thực trạng kiến thức về chế độ ăn của người bệnh sau phẫu thuật đại tràng tại Bệnh viện Quân y 103 https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/552 Mục tiêu: Mô tả thực trạng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức về chế độ ăn của người bệnh sau phẫu thuật đại tràng tại Bệnh viện Quân y 103 năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 72 người bệnh đang điều trị tại Khoa Phẫu thuật Ống tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 04 năm 2025 đến tháng 8 năm 2025. Bộ công cụ được xây dựng dựa trên hướng dẫn của ERAS và ESPEN; đồng thời được thẩm định bởi 03 chuyên gia với CVI là 0,92 và độ tin cậy Cronbach’s alpha = 0,85. Kết quả: Có 45,8% người bệnh có kiến thức đạt về chế độ ăn và 54,2% chưa đạt. Yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: nơi ở (p = 0,006), trình độ học vấn (p = 0,002) và tìm hiểu thông tin (p < 0,001). Kết luận: Kiến thức về chế độ ăn của người bệnh sau phẫu thuật đại tràng tại Bệnh viện Quân y 103 còn hạn chế. Vũ Văn Tiến, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Đức, Lê Nhật Anh, Nguyễn Duy Đông, Trần Vũ Nam Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/552 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700 Kết quả sớm của kỹ thuật tạo hình chữ B trong phẫu thuật bảo tồn ung thư vú tại Bệnh viện Quân y 175 https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/556 Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm của kỹ thuật tạo hình chữ B trong phẫu thuật bảo tồn vú cho người bệnh ung thư vú tại Bệnh viện Quân y 175. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, thực hiện trên 51 người bệnh với chẩn đoán ung thư vú được phẫu thuật bảo tồn tạo hình chữ B tại Bệnh viện Quân y 175, từ tháng 12/2022 đến tháng 10/2025. Kết quả thẩm mỹ được đánh giá theo thang Harris tại thời điểm 6 tháng sau khi hoàn thành xạ trị bổ trợ; tại thời điểm khóa số liệu có 35/51 người bệnh đủ mốc đánh giá. Mức độ hài lòng được khảo sát riêng trên toàn bộ 51 người bệnh bằng thang Likert 4 mức. Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu trên 51 người bệnh ung thư vú giai đoạn sớm có tuổi trung bình 52,3 ± 9,8 tuổi. Có 64,7% được sinh thiết hạch cửa. Thời gian phẫu thuật trung bình là 105,4 ± 28,7 phút. Tỷ lệ diện cắt âm tính lần đầu phẫu thuật đạt 96,1% (49/51). Đa số người bệnh được rút dẫn lưu trong vòng 5 ngày (74,5%) và xuất viện trong vòng 7 ngày sau mổ (82,4%). Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật là 17,64% (9/51), trong đó tụ dịch là biến chứng thường gặp nhất (7,84%; 4/51). Trong 35 người bệnh đủ điều kiện đánh giá thẩm mỹ, 28 trường hợp (80,0%; KTC 95%: 63,1-91,6) đạt mức tốt hoặc rất tốt. Tỷ lệ hài lòng hoặc rất hài lòng là 86,3% (44/51). Kết luận: Kỹ thuật tạo hình chữ B trong phẫu thuật bảo tồn ung thư vú cho thấy kết quả sớm khả quan về diện cắt, biến chứng và thẩm mỹ trong nhóm người bệnh nghiên cứu. Lê Minh Phong, Đinh Huy Giang Copyright (c) 2026 Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng https://jbdmp.vn/index.php/yhthvb/article/view/556 Sun, 30 Aug 2026 00:00:00 +0700