Kiến thức về điểu trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Đỗ Quang Tuyển1, Lê Thị Dung2, Lê Đức Sang1, Hà Thị Huyền1,
1 Trường Đại học Thăng Long
2 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là cơ sở khám chữa bệnh tuyến cuối, tiếp nhận số lượng lớn người bệnh BPTNMT, trong đó nhiều trường hợp nhập viện do đợt cấp. Công tác tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh về tuân thủ điều trị giúp ngăn chặn đợt cấp, cải thiện chất lượng cuộc sống. 
Mục tiêu: Mô tả kiến thức về điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2022. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 103 người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nằm điều trị nội trú tại khoa A1C, A1A và khoa A5, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, sử dụng cách chọn mẫu toàn bộ. Thông tin được thu thập bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn theo hình thức phát vấn trực tiếp. 
Kết quả: Có 24,3% người bệnh biết bản thân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, có 41,7% người bệnh không biết bệnh có thể chữa khỏi được hay không; 86,4% người bệnh cho rằng việc điều trị thuốc duy trì là cần thiết, tỷ lệ người bệnh biết về các liệu pháp điều trị không dùng thuốc chưa cao. Đa số người bệnh biết về các dấu hiệu nguy hiểm cần đi khám là khó thở; ho, khạc đờm hoặc đi khám lại khi hết thuốc (77,7 %; 66,0%; 89,3%). Tỷ lệ người bệnh nhận biết tăng nhịp tim và mệt khi đi lại nhanh là dấu hiệu cần đi khám còn thấp, lần lượt là 32,0% và 37,9%. Đa số người bệnh nghiên cứu cho rằng cần đi khám khi bệnh nặng lên chiếm 50,5%; không cần thay đổi (36,9%) và có thể tự tăng liều thuốc (12,6%). 
Kết luận: Kiến thức của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính về điều trị nhìn chung còn chưa đầy đủ, cần rà soát và tư vấn giáo dục sức khỏe có trọng tâm cho người bệnh.
 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Li H, Gao T, Fang W, et al. Global, regional and national burden of chronic obstructive pulmonary disease over a 30-year period: Estimates from the 1990 to 2019 Global Burden of Disease Study. Respirology. 2023;28:29-36. doi: 10.1111/resp.14349.
2. Adeloye D, Song P, Zhu Y, et al. Global, regional, and national prevalence of, and risk factors for chronic obstructive pulmonary disease (COPD) in 2019: A systematic review and modelling analysis. Respir Med. 2022;10(5):447-458.
doi:10.1016/S2213-2600(21)00511-7.
3. Nguyen Viet N, Yunus F, Nguyen Thi Phuong A, Dao Bich V, Damayanti T, Wiyono WH, et al. The prevalence and patient characteristics of chronic obstructive pulmonary disease in non-smokers in Vietnam and Indonesia: An observational survey. Respirology. 2015 May;20(4):602-611. doi: 10.1111/resp.12507.
4. Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (GOLD). Global Strategy for Prevention, Diagnosis and Management of COPD: 2022 Report. Fontana (WI): GOLD; 2022.
5. Phan Thị Thanh Hoa. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chi phí điều trị trực tiếp của người bệnh đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Trung tâm Hô hấp - Bệnh viện Bạch Mai [Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ đa khoa]. Hà Nội: Trường Đại học Y Hà Nội, 2013.
6. Lee SJ, Kim SW, Kong KA, Ryu YJ, Lee JH, Chang JH. Risk factors for chronic obstructive pulmonary disease among never-smokers in Korea. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 2015;10:497-506. doi: 10.2147/COPD.S77662.
7. Nguyễn Quang Đợi. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ tắc động mạch phổi cấp ở người bệnh đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [Luận án tiến sĩ y học]. Hà Nội: Trường Đại học Y Hà Nội, 2019.
8. Nguyễn Đức Thọ. Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại xã Kiến Thiết và Kiền Bái, thành phố Hải Phòng năm 2014 - 2016 [Luận án Tiến sĩ y học]. Hải Phòng: Trường Đại học Y Hải Phòng, 2018.