Đánh giá kết quả công tác vận chuyển cấp cứu người bệnh bằng đường không từ Quần đảo Trường Sa về Bệnh viện Quân y 175

Lê Trọng Dũng1, Tống Đức Minh1, , Trần Quốc Việt2, Bùi Đức Thành2, Trần Quang Trung1, Phùng Văn Hành1
1 Học viện Quân Y
2 Bệnh viện Quân y 175

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá kết quả công tác vận chuyển cấp cứu người bệnh bằng đường không từ Quần đảo Trường Sa về Bệnh viện Quân y 175. 
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu về kết quả công tác vận chuyển cấp cứu người bệnh bằng đường không từ các vùng biển đảo về Bệnh viện Quân y 175. 
Kết quả: Kết quả nghiên cứu có 42 trường hợp được vận chuyển cấp cứu bằng máy bay quân sự từ khu vực biển đảo về Bệnh viện Quân y 175. Người bệnh chủ yếu là nam giới (97,62%), ngư dân (59,52%) và có tuổi trung bình 39,81 ± 12,27 tuổi. Đột quỵ não là bệnh lý thường gặp nhất (33,33%), tiếp theo là chấn thương (21,43%) và hội chứng giảm áp (14,29%). Thuốc vận mạch là biện pháp can thiệp chủ yếu trong quá trình vận chuyển (88,10%). Thời gian trung vị từ khi người bệnh bị thương, bị bệnh đến khi được vận chuyển về Bệnh viện Quân y 175 là 34,99 giờ (22,51–52,35 giờ), với tỷ lệ vận chuyển thành công đạt 92,86%.
Kết luận: Vận chuyển cấp cứu bằng máy bay là phương thức chuyển tuyến hiệu quả đối với người bệnh nặng từ Quần đảo Trường Sa về Bệnh viện Quân y 175, đặc biệt trong các trường hợp đột quỵ, chấn thương và hội chứng giảm áp. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò của công tác vận chuyển cấp cứu đường không trong rút ngắn thời gian vận chuyển, bảo đảm an toàn người bệnh và nâng cao năng lực bảo đảm quân y trên biển, đảo.
 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Quân chủng Hải quân (2013), Địa lý y tế quân sự Hải quân, Cục Hậu cần, Quân chủng Hải quân.
2. Nguyễn Tụ và cộng sự (1996), Nghiên cứu tổ chức cứu chữa vận chuyển thương binh, bệnh bịnh ở cụm đảo Nam Yết quần đảo Trường Sa, Bộ Quốc phòng.
3. William Beninati, J. D. Polk, William F. Fallon (2019), “Civilian Air Medical Transport”, Aeromedical Evacuation: Management of Acute and Stabilized Patients, Springer International Publishing, Cham, 41-58.
4. Bộ Quốc phòng (2016), Thông tư số 193/2016/TT-BQP ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2016 của Bộ Quốc phòng về quy chế tổ chức vận chuyển cấp cứu người bị thương, bị bệnh trên các vùng biển, đảo, vùng sâu, vùng xa bằng máy bay quân sự. Hà Nội.
5. Bộ Quốc phòng (2020), Thông tư số 127/2020/TT-BQP của Bộ Quốc phòng ban hành ngày 20 tháng 10 năm 2020 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức vận chuyển cấp cứu người bị thương, bị bệnh trên các vùng biển, đảo, vùng sâu, vùng xa bằng máy bay quân sự ban hành kèm theo Thông tư số 193/2016/TT-BQP ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2016 của Bộ Quốc phòng. Hà Nội.
6. Jin-Wook Yi, Kyu Eun Lee, Young-Heon Kim (2014). Helicopter Patient Transportation Service on the Ulleung Island, South Korea. Air Med J. 2014 Nov-Dec;33(6):314-9. doi: 10.1016/j.amj.2014.07.005. Epub 2014 Nov 5.
7. Meng‑Yu Wua, Chia‑Jung Lic, Yueh‑Tseng Hou (2020). Analysis of emergency air medical services over 9 years in the Penghu archipelago of Taiwan. Tzu Chi Medical Journal 2020; 32(1): 82–87.
8. Opeolu Adeoye, Chair; Karin V. Nyström (2019). Recommendations for the Establishment of Stroke Systems of Care: A 2019 Update A Policy Statement From the American Stroke Association. Stroke. 2019;50(7):e187–e210; doi:10.1161/STR.0000000000000173. PubMed
9. Simon J. Mitchell, Michael H. Bennett, Phillip Bryson (2018). Consensus guideline: Pre-hospital management of decompression illness: expert review of key principles and controversies UHM 2018, Undersea Hyperb Med. 2018;45(3):273–286.
10. European Resuscitation Council (2021). ERC Guidelines 2021 for Resuscitation. Resuscitation. 2021;161:1–60.
11. Philipp Mommsen (2012), Comparison of Helicopter and Ground Emergency Medical Service: A Retrospective Analysis of a German Rescue Helicopter Base. Technology and Health Care. 2012;20(1):49–56.
12. Giri S, Sharma U, Choden J (2019). Bhutan’s First Emergency Air Medical Retrieval Service: The First Year of Operations. Air Med J. 2020;39(2):116–119. doi:10.1016/j.amj.2019.11.001. PubMed.