Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác năm 2024

Nguyễn Thị Hồng Thắm1,2,, Nguyễn Thị Thu Hương3,4, Ngô Minh Đức3,4, Đặng Thị Thủy5
1 Bệnh viện Bỏng Quốc Gia Lê Hữu Trác
2 Học viện Quân Y
3 Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác
4 Học viện Quân y
5 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác năm 2024.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 400 bệnh án nội trú có sử dụng kháng sinh, được lựa chọn từ quần thể 3063 bệnh nhân điều trị nội trú có sử dụng ít nhất một kháng sinh trong năm 2024; mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân tầng theo khoa lâm sàng. Các chỉ tiêu phân tích bao gồm đặc điểm bệnh nhân, đặc điểm sử dụng kháng sinh và tính hợp lý trong sử dụng.
Kết quả: Nghiên cứu ghi nhận 879 đợt sử dụng kháng sinh, trung bình 2,20 ± 1,54 đợt/bệnh nhân. Số kháng sinh sử dụng trung bình là 3,08 ± 1,40 thuốc/bệnh nhân, với thời gian sử dụng trung bình 7,17 ± 3,04 ngày. Phác đồ đơn kháng sinh chiếm 61,9%, trong khi phác đồ phối hợp chiếm 38,1%. Tỷ lệ sử dụng kháng sinh hợp lý đạt mức cao về liều dùng, khoảng cách liều và phối hợp kháng sinh, lần lượt là 98,2%, 97,6% và 95,2%. Trong các khoa lâm sàng, Khoa Hồi sức cấp cứu là đơn vị có mức sử dụng kháng sinh cao nhất.
Kết luận: Việc sử dụng kháng sinh nhìn chung hợp lý về liều dùng, khoảng cách liều và phối hợp. Tuy nhiên, cần tiếp tục tối ưu hóa chiến lược sử dụng kháng sinh, đặc biệt trong phối hợp và thời gian điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Antimicrobial Resistance Collaborators. Global burden of bacterial antimicrobial resistance in 2019: a systematic analysis. Lancet. 2022; 399(10325):629-655.
2. World Health Organization. Antimicrobial stewardship programmes in health-care facilities in low- and middle-income countries: a WHO practical toolkit. Geneva: World Health Organization; 2019.
3. Church D, Elsayed S, Reid O, Winston B, Lindsay R. Burn wound infections. Clin Microbiol Rev. 2006; 19(2):403-434.
4. Versporten A, Zarb P, Caniaux I, Gros MF, Drapier N, Miller M, et al. Antimicrobial consumption and resistance in adult hospital inpatients in 53 countries: results of an internet-based global point prevalence survey. Lancet Glob Health. 2018; 6(6):e619-e629.
5. Bộ Y tế. Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện. Quyết định số 5631/QĐ-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2020. Hà Nội: Bộ Y tế; 2020.
6. Thu TA, Rahman M, Coffin S, Harun-Or-Rashid M, Sakamoto J, Hung NV. Antibiotic use in Vietnamese hospitals: a multicenter point-prevalence study. Am J Infect Control. 2012; 40(9):840-844.
7. Phu VD, Wertheim HFL, Larsson M, Nadjm B, Dinh QD, Nilsson LE, et al. Burden of hospital-acquired infections and antimicrobial use in Vietnamese adult intensive care units. PLoS One. 2016; 11(1):e0147544.
8. Vincent JL, Rello J, Marshall J, Silva E, Anzueto A, Martin CD, et al. International study of the prevalence and outcomes of infection in intensive care units. JAMA. 2009; 302(21):2323-2329.
9. Rice LB. The Maxwell Finland Lecture: for the duration-rational antibiotic administration in an era of antimicrobial resistance and Clostridium difficile. Clin Infect Dis. 2008; 46(4):491-496.
10. Dellit TH, Owens RC, McGowan JE Jr, Gerding DN, Weinstein RA, Burke JP, et al. Infectious Diseases Society of America and the Society for Health-care Epidemiology of America guidelines for developing an institutional program to enhance antimicrobial stewardship. Clin Infect Dis. 2007; 44(2):159-177.