Đặc điểm đề kháng kháng sinh của nhóm vi khuẩn ESKAPEE và hiệu quả bao phủ in vitro của phác đồ phối hợp dựa trên kháng sinh đồ tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác Lê Hữu Trác năm 2023 - 2024

Nguyễn Thái Ngọc Minh1,2, , Hoàng Mỹ Dung1
1 Bệnh viện Bỏng Quốc Gia Lê Hữu Trác
2 Học viện Quân y

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả mức độ đề kháng kháng sinh của các tác nhân chính trong nhóm ESKAPEE và đánh giá bước đầu tỷ lệ bao phủ in vitro của một số phác đồ phối hợp bằng phương pháp kháng sinh đồ trực tiếp từ dữ liệu thực tế tại một trung tâm bỏng.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 160 chủng vi khuẩn phân lập lần đầu từ bệnh nhân bỏng và vết thương mạn tính (01/2023 - 12/2024). Định danh và nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) được xác định bằng máy VITEK 2 Compact, phiên giải theo điểm cắt lâm sàng của Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và Xét nghiệm Hoa Kỳ (CLSI) năm 2023. Để đảm bảo so sánh đồng nhất, các phân tích chuyên sâu (bao gồm Colistin) chỉ thực hiện trên những chủng có kết quả kháng sinh đồ hoàn chỉnh, cụ thể là 19 chủng Acinetobacter baumannii và 30 chủng Pseudomonas aeruginosa.
Kết quả: Tỷ lệ phân lập trên các chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus (31,3%), P. aeruginosa (29,4%) và A. baumannii (23,1%) chiếm ưu thế. Tỷ lệ kháng sinh đồ đầy đủ đạt 96,3% ở mẫu máu nhưng chỉ 28,6% ở mẫu vết thương. Trong nhóm phân tích chính, mức độ nhạy cảm với meropenem rất thấp, lần lượt là 15,8% đối với A. baumannii và 16,7% đối với P. aeruginosa. Colistin còn hoạt tính in vitro cao (100% ở A. baumannii với mức trung gian MIC ≤ 2mg/L, 90,0% ở P. aeruginosa). Phác đồ meropenem + colistin bao phủ 100% và 90,0%, không khác biệt so với Colistin đơn độc, cho thấy việc thêm carbapenem không làm tăng thêm độ bao phủ in vitro.  Tỷ lệ MRSA là 82,0% (41/50), tất cả còn nhạy với vancomycin (100%) và 96,0% (48/50) với linezolid.
Kết luận: Dữ liệu in vitro bước đầu gợi ý phác đồ chứa Colistin đạt độ bao phủ cao nhất, nhưng điều này chủ yếu là do hoạt tính của colistin đơn trị. Các kết quả cần được diễn giải thận trọng do phương pháp đo Colistin chưa phải tiêu chuẩn vàng, cỡ mẫu hạn chế và đây chỉ là phân tích bao phủ in vitro, chưa đánh giá hiệp đồng diệt khuẩn hay kết cục lâm sàng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. De Oliveira DMP, Forde BM, Kidd TJ, et al. Antimicrobial Resistance in ESKAPE Pathogens. Clin Microbiol Rev. 2020;33(3):e00181-19.
2. Bùi Thị Hương Giang, Nguyễn Đức Quỳnh. Đặc điểm kháng kháng sinh và các yếu tố nguy cơ tử vong của nhiễm khuẩn bệnh viện tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam. 2022;515(1):23-27.
3. Phạm Thị Ngọc Nga, Nguyễn Trí Yến Chi, Trương Thị Bích Vân. Mức độ đề kháng kháng sinh của một số vi khuẩn Gram âm thường gặp tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ (2019-2023). Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;538(3):111-116.
4. Pogue JM, Kaye KS, Cohen DA, Marchaim D. Appropriate use of combination antibiograms. Infect Control Hosp Epidemiol. 2015;36(12):1453-1454.
5. CLSI. Performance Standards for Antimicrobial Susceptibility Testing. 33rd ed. CLSI supplement M100. Wayne, PA: Clinical and Laboratory Standards Institute; 2023.
6. Chew KL, La MV, Lin RTP, Teo JWP. Colistin and Polymyxin B Susceptibility Testing. J Clin Microbiol. 2017;55(8):2326-2337.
.7. Magiorakos AP, Srinivasan A, Carey RB, et al. Multidrug-resistant, extensively drug-resistant and pandrug-resistant bacteria. Clin Microbiol Infect. 2012;18(3):268-281.
8. Trương Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Mai Hương, Hoàng Mỹ Hạnh. Đánh giá tỷ lệ và mức độ kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác (01/2016-12/2021). Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng. 2023;1:38-53.
9. Kadri SS, Adjemian J, Lai YL, et al. Difficult-to-Treat Resistance in Gram-negative Bacteremia at 173 US Hospitals. Clin Infect Dis. 2018;67(12):1803-1814.