Đánh giá tác dụng điều trị tại chỗ vết thương bỏng sâu của dung dịch Mafenide acetate 5%
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của dung dịch Mafenide acetate 5% trong điều trị tại chỗ vết thương bỏng sâu, so sánh với Sulfadiazin bạc (SSD) 1%.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp, có đối chứng, so sánh trước - sau, thực hiện trên 40 bệnh nhân bỏng sâu nhập viện tại Khoa Điều trị Bỏng người lớn (Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác) (tháng 6/2024 - 6/2025).
Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm: Nhóm nghiên cứu (n = 20) đắp dung dịch Mafenide 5%, nhóm chứng (n = 20) đắp SSD 1%. Sau 5 ngày điều trị, tất cả được cắt bỏ hoại tử toàn lớp và ghép da tự thân mắt lưới (tỷ lệ 1:1,5). Sau mổ, nhóm nghiên cứu tiếp tục dùng Mafenide 5% thêm 5 ngày; cả hai nhóm sau đó thay băng bằng dung dịch Berberin 0,1% cho đến khi mảnh ghép bám sống. Các chỉ số đánh giá gồm: Diễn biến lâm sàng tại chỗ, kết quả ghép da, thời gian biểu mô hóa hoàn toàn vết thương, vi sinh (tỷ lệ và mật độ cấy vi khuẩn).
Kết quả: Hai nhóm bệnh nhân tương đồng về tuổi, giới, diện tích bỏng sâu nghiên cứu và tác nhân bỏng. Nhóm Mafenide 5% làm giảm viêm nề và mức độ dịch tiết giảm nhanh hơn, số lượng vi khuẩn giảm có ý nghĩa sau đắp thuốc so với nhóm Sulfadiazin bạc 1% (p = 0,03). Vi khuẩn chủ yếu phân lập gồm Staphylococcus aureus (40,04%) và P.seudomonas aeruginosa (33,33%), trong đó nhóm Sulfadiazin bạc 1% có xu hướng phân lập P. aeruginosa nhiều hơn. Tỷ lệ mảnh ghép sống tốt ở cả hai nhóm tương đương (70% và 65%) ở ngày thứ 5 sau phẫu thuật và thời gian biểu mô hóa hoàn toàn vết thương.
Kết luận: Dung dịch Mafenide acetat 5% là một lựa chọn điều trị hiệu quả trong xử trí tại chỗ các vết thương bỏng sâu, giúp cải thiện kiểm soát nhiễm khuẩn so với Sulfadiazin bạc 1% và an toàn trong ghép da tự thân mắt lưới cũng như quá trình biểu mô hóa.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Mafenide acetat 5%, bỏng sâu, điều trị tại chỗ, kháng khuẩn, ghép da
Tài liệu tham khảo
2. Nguyễn Ngọc Tuấn (2018). “Nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn huyết trong bỏng”, Giáo trình bỏng - Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, tr. 243 - 65.
3. Nguyễn Ngọc Tuấn (2018), Thuốc điều trị tại chô vết bỏng”, Giáo Trình bỏng - Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, tr. 154 - 61.
4. Lansdown, A. (2006). “Silver in health care: Antimicrobial effects and safety in use”. Current problems in dermatology-basel; 33(R): p. 17.
5. Lê Thị Thu Hằng (2023). “Nghiên cứu điều chế và đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro trên trực khuẩn mủ xanh của dung dịch Mafenide acetat 2,5% và 5% từ nguyên liệu sản xuất trong nước”, Đề tài cơ sở cấp Học viện Quân y.
6. Nguyễn Ngọc Tuấn (2018). “Các phương pháp phẫu thuật điều trị bỏng”, Giáo Trình bỏng - Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Tr 134 - 53.
7. Saaiq, M., S. Ahmad, and M.S. Zaib (2015), “Burn wound infections and antibiotic susceptibility patterns at Pakistan Institute of Medical Sciences”, Islamabad, Pakistan. World journal of plastic surgery, 2015. 4(1): p. 9.
8. Hashemi, B., A. Bayat, T. Kazemei, and N. Azarpira (2011). “Comparison between topical honey and mafenide acetate in treatment of auricular burn”,
9. Maggi SP, S.P., Smith PD, Hill DP, Ko F, Robson MC (1999). “The efficacy of 5% Sulfamylon solution for the treatment of contaminated explanted human meshed skin grafts”. Burns. 25(3). 237-241. 1999.
10. Acaban, M.B., Sarı, A., Demirbağ, H. O., Ersöz, G., & Aktaş, S.. “The effects of topical mafenide acetate application on skin graft survival in bacterial contaminated wounds”. Burns, 50(2), 433-443. 2024.
11. Pendleton, R.A., & Holmes IV, J. H. (2010), “Systemic absorption of amphotericin B with topical 5% mafenide acetate/amphotericin B solution for grafted burn wounds: is it clinically relevant?”. Burns, 36(1), 38-41. 2010.