Hiệu quả của hỗn dịch tế bào tự thân không nuôi cấy trong điều trị vùng cho da ghép mảnh mỏng

Nguyễn Thái Ngọc Minh1,, Hoàng Văn Vụ1
1 Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả liền thương và cải thiện chất lượng sẹo của hỗn dịch tế bào tự thân không nuôi cấy trong điều trị vị trí lấy da ghép mảnh mỏng.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng tiến cứu, ngẫu nhiên, có đối chứng trong cùng một bệnh nhân trên 30 bệnh nhân bỏng (18 - 60 tuổi). Tại vị trí lấy da ở đùi, một nửa diện tích được điều trị ngẫu nhiên bằng hỗn dịch tế bào tự thân không nuôi cấy (Vùng A), nửa còn lại được điều trị bằng gạc vaselin (Vùng B). Chỉ số chính là thời gian liền thương. Các chỉ số phụ bao gồm mức độ đau, chất lượng sẹo sau 6 tháng (thang điểm VSS, POSAS) và tỷ lệ biến chứng.
Kết quả: Thời gian liền thương trung bình ở vùng A là 10,8 ± 1,4 ngày, ngắn hơn đáng kể so với vùng B là 14,1 ± 2,7 ngày (p < 0,001). Mức độ đau ở vùng A thấp hơn có ý nghĩa thống kê trong 2 tuần đầu. Sau 3 và 6 tháng, tỷ lệ da vùng ghép có sắc tố bình thường ở nhóm Recell cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng (66,7% vs 26,7% tại 3 tháng; 83,3% vs 40% tại 6 tháng; p < 0,001). Tỷ lệ nhiễm trùng ở vùng A thấp hơn vùng B (3,3% so với 16,7%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,098).
Kết luận: Ứng dụng hỗn dịch tế bào tự thân không nuôi cấy giúp rút ngắn đáng kể thời gian liền thương, giảm đau sau phẫu thuật và cải thiện chất lượng sẹo sau 6 tháng. Đây là một phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị vị trí lấy da ghép mảnh mỏng ở bệnh nhân bỏng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Grada A., Mervis J. (2024). Split-thickness skin grafts. In StatPearls. StatPearls Publishing.
2. Onuma K., Nnabuko R. (2015). Complications of split-thickness skin graft donor sites in a tertiary institution in Nigeria. Nigerian Journal of Plastic Surgery, 11(2), 34-38.
3. DeJong H. M., et al. (2024). dRESsing: A pilot randomised controlled trial comparing Regenerative Epidermal Suspension (RES) to standard care for paediatric split-thickness skin graft donor site wounds. BMJ Open, 14(2), e077525.
4. Danielsen P. L., et al. (2012). Erythema persists longer than one year in split-thickness skin graft donor sites. Acta Dermato-Venereologica, 92(6), 648-651.
5. Gfrörer L. (2021). Split thickness skin graft donor sites: Eight years follow-up of patient-reported scar outcome [Doctoral dissertation, Linköping University]. Diva Portal.
6. Sidgwick G. P., McGeorge D., Bayat, A. (2015). A comprehensive evidence-based review on the role of topicals and dressings in the management of skin scarring. Archives of Dermatological Research, 307(6), 461-477.
7. Holmes IV, J. H., et al. (2018). A comparative study of the ReCell® device and autologous split-thickness meshed skin graft in the treatment of acute burn injuries. Journal of Burn Care & Research, 39(5), 694-702.
8. Wood F. M., et al. (2007). The use of a non-cultured autologous cell suspension and Integra® dermal regeneration template to repair full-thickness skin wounds in a porcine model: A one-step process. Burns, 33(6), 693-700.
9. Zhu J., et al. (2017). Randomized clinical trial of autologous skin cell suspension for accelerating re-epithelialization of split-thickness donor sites. British Journal of Surgery, 104(9), 1165-1171.
10. Al-Mousawi A. M., et al. (2024). Effect of autologous skin cell suspensions versus standard treatment on re-epithelialization in burn injuries: A meta-analysis of RCTs. Medicina, 60(3), 529.