Đánh giá chất lượng của hỗn dịch tế bào da tự thân không nuôi cấy sau bảo quan lạnh sâu

Nguyễn Thị Hương1,, Đinh Văn Hân1, Nguyễn Thị Vân Anh1, Đinh Thành Hưng1, Nguyễn Thị Hồng Liên1, Hoàng Văn Tú1, Lại Thị Nga1
1 Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Trị liệu tế bào da tự thân không qua nuôi cấy đang dần trở thành một giải pháp tiềm năng trong điều trị vết thương, vết bỏng sâu diện rộng [1, 2]. Sử dụng hỗn dịch tế bào da không qua nuôi cấy là một trong những phương pháp đã được minh chứng có tác dụng tích cực đến quá trình liền vết thương cho bệnh nhân, việc chuẩn hoá quy trình bảo quản lạnh sâu hỗn dịch tế bào da có rất nhiều ý nghĩa khoa học và thiện tiên với các bệnh.
Mục tiêu: Đánh giá được chất lượng của tế bào sau bảo quản 4 tuần ở các nồng độ chất bảo quản DMSO khác nhau bằng phương pháp nhuộm xanh Trypan và nuôi cấy tế bào.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 10 miếng da mảnh mỏng (0,25 mm) bằng enzyme trypsin- từ các mẫu da thu hồi trong phẫu thuật ghép da tự thân. Hỗn dịch tế bào sau phân tách được bảo quản lạnh sâu ở -80°C với các nồng độ DMSO khác nhau (9%, 10%, 11%). Sau giã đông, tế bào được đánh giá tỷ lệ sống/ chết bằng nhuộm xanh Trypan và được nuôi cấy chuyên biệt để đánh giá được khả năng phân lập của tế bào.
Kết quả: Tỷ lệ tế bào sống trung bình sau tách đạt trung bình khoản trên 80%, cao nhất là 92,1%. Nồng độ DMSO 10% (C2) được xác định là tối ưu cho bảo quản. Sau 4 tuần bảo quản lạnh sâu, tỷ lệ tế bào sống trung bình giảm nhẹ nhưng vẫn duy trì khả năng sống bám dính và phát triển trong môi trường nuôi cấy.
Kết luận: Đánh giá được tỷ lệ tế bào sống của hỗn dịch tế bào da tự thân không nuôi cấy sau thời gian bảo quản lạnh sâu; tế bào sau giã đông được nuôi cấy trong môi trường định hướng vẫn đảm bảo khả năng sống sau 6 ngày nuôi cấy, nồng độ chất bảo quản lạnh sau là 10%.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Wood, F.M., et al., Characterisation of the cell suspension harvested from the dermal epidermal junction using a ReCell® kit. Burns, 2012. 38(1): p. 44-51.
2. Zhao, H., et al., Autologous epidermal cell suspension: a promising treatment for chronic wounds. Journal of Tissue Viability, 2016. 25(1): p. 50-56.
3. Sen, C.K., et al., Human skin wounds: a major and snowballing threat to public health and the economy. Wound repair and regeneration, 2009. 17(6): p. 763-771.
4. Dinh VH, Nguyen TH, Nguyen PT, Ngo NH. Đánh giá khả năng phân lập tế bào da của enzyme Dispase II và Trypsin và định hướng sử dụng enzyme trong chế tạo hỗn dịch tế bào da để điều trị vết thương và vết bỏng. Tạp chí Y học Việt Nam. 2014.
5. Strober, W., Trypan blue exclusion test of cell viability. Current protocols in immunology, 1997. 21(1): p. A. 3B. 1-A. 3B. 2.
6. Freshney, R.I., Other Epithelial Cells. Culture of Epithelial Cells, 2002: p. 401-436.
7. Atiyeh, B.S., et al., Effect of silver on burn wound infection control and healing: review of the literature. burns, 2007. 33(2): p. 139-148.
8. Meneghel, J., P. Kilbride, and G.J. Morris, Cryopreservation as a key element in the successful delivery of cell-based therapies: A review. Frontiers in Medicine, 2020. 7: p. 592242.
9. Niebergall-Roth, E. and M.A. Kluth, Dimethyl sulfoxide in cryopreserved mesenchymal stromal cell therapy products: is there a safety risk to patients? Journal of Translational Medicine, 2025. 23(1): p. 932.
10. Flahaut, M., et al., Reassessing long-term cryopreservation strategies for improved quality, safety, and clinical use of allogeneic dermal progenitor cells. Journal of Investigative Dermatology, 2024. 144(10): p. 2125-2135.